Mê mẩn gỏi sen tôm thịt

Nguyên liệu (4 phần ăn): 150g củ sen; 100g ngó sen; 50g; cà rốt; 200g tôm sú; 100g thịt ba rọi; đậu phộng rang vàng.

Gia vị: 2 muỗng cà phê tỏi băm; 1 muỗng cà phê ớt đỏ băm; 1 muỗng xúp nước cốt chanh; 1 muỗng xúp tương ớt; 1 muỗng xúp nước mắm; 1 muỗng xúp đường; mè rang vàng, rau thơm.

Chế biến: Thịt ba rọi luộc chín, thái sợi. Tôm luộc chín, bóc vỏ bỏ đầu. Củ sen bào vỏ, thái khoanh mỏng. ngó sen thái khúc vừa ăn, ngâm củ sen và ngó sen vào nước có pha ít nước cốt chanh để tránh thâm đen. Cà rốt thái sợi. Hoà tan nước cốt chanh, đường, nước mắm, tương ớt, ớt, tỏi. Cho củ sen, ngó sen, cà rốt, tôm thịt vào tô, rưới nước mắm pha vào trộn đều cho thấm.

Trình bày: Cho gỏi ra dĩa, trang trí thành từng cụm nhỏ, thêm rau thơm và mè rang vàng. Có thể dùng chung với bánh phồng tôm hay bánh tráng nướng tuỳ thích. Tuỳ theo khẩu vị, có thể ăn kèm nước mắm pha chua ngọt.

Mê mẩn gỏi sen tôm thịt, Ẩm thực, mon ngon moi ngay, nau an, mon ngon, nau an ngon, mon ngon de lam, am thuc viet nam, day nau an, mon an ngon, mon ngon cuoi tuan, mon an hang ngay,day nau an ngon, nau an moi ngay, nau an ngon moi ngay, am thuc viet, am thuc

Kiến trúc nhà ở của các dân tộc trong tỉnh

KIẾN TRÚC NHÀ Ở CỦA CÁC DÂN TỘC TRONG TỈNH

Kiến trúc nhà ở dân gian của người Việt

1- Nhà tranh tre

Nhà tranh tre có 3 gian, 2 chái, mặt bằng ngôi nhà chia làm 3 phần: nhà chính, nhà ngang và nhà bếp, được đặt liền kề nhau theo kiểu chữ L. Giữa nhà chính và nhà ngang không có sự liên kết, song giữa nhà ngang và nhà bếp được làm chung một vách và một cửa thông nhau để cho các thành viên trong gia đình có thể đi lại, nấu nướng, ăn uống dễ dàng.

Chuồng trại nuôi heo, gà được bố trí liên hoàn với nhà bếp. Thường bên phải nhà chính là chuồng nuôi trâu bò. Kiến trúc nhà tranh tre từ vật liệu tranh tre dễ tìm. Mái nha thường lợp tranh già và dày. Tranh lợp mái theo lối trải, đầu tranh cột lạt vào rui mè. Hệ thống đòn tay đỡ mái liên kết với kèo cột qua các chốt sẻ. Vách nhà bằng đất, cốt bên trong là tre làm mầm, cột nhà bằng tre ngâm.

Chức năng của nhà chính là thờ phụng, tiếp khách, đàn ông ngủ; nhà ngang chia làm 2 phần, gồm nơi ăn uống và bảo quản chế biến lương thực; bếp dùng để nấu nướng.

Bên trong nhà chính có 8 hàng cột, chia mặt bằng sinh hoạt của nhà chính thành 3 gian: gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, phía trước đặt tấm phản gỗ và bộ ghế gỗ để tiếp khách đàn ông của ông chủ gia đình (nếu khách ở lại thì có thể ngủ trên phản đặt trước bàn thờ). Đây là không gian linh thiêng và trang trọng nhất của ngôi nhà.

Nhà chính có một cửa chính để ra vào. Gian phía Tây có một góc buồng vách bằng phên liếp tre đan, gọi là buồng Tây, dùng để đặt đồ đạc và là chỗ ngủ của ông chủ gia đình. Phía ngoài được đặt thêm phản ngủ để dành cho con trai trong nhà. Trong gian này có một cửa phụ và một cửa chính ra vào.

Gian phía Đông được dành cho đàn bà con gái trong nhà. Tại gian này, phía Đông ngăn phên liếp tre thành buồng riêng, gọi là buồng Đông, dành cho bà chủ trong gia đình (hoặc cho vợ chồng con trai trưởng, nếu gia đình đó phân chia thêm một tiểu gia đình).

Trong gian này có phản gỗ dùng cho con gái trong nhà sinh hoạt, ngủ và bà chủ gia đình tiếp khách nữ trên tấm phản gỗ được đặt trong gian giữa của ngôi nhà (lệch với bàn thờ). Trong gian này có một cửa chính ra vào.

Kiến trúc nhà tranh tre có đến 32 cột, trong đó 16 cột chính. Cột nhà được làm từ loại tre đặc ruột, ngâm chín, rất bền chắc. Trong không gian ngôi nhà số lượng cột chia thành 8 hàng ngang để đỡ 8 vì kèo tre.

Vì kèo thường là kiểu vì kèo gác trính chuyền. Vì kèo liên kết với cột bằng hệ thống chéo dọc, gác qua hệ thống trỏng nóc (trụ chồng) để đỡ thượng lương. Các trỏng nóc đặt trên điểm giữa của trính cặp thượng, lực đè sẽ được phân đều qua hai trụ cột chính. Trính cặp hạ là hai thanh tre dài, liên kết với đoạn cuối của hai tay kèo, gác qua hai cột nhì và tiền hậu (cột vách), liên kết với hai cột chính ở giữa lòng nhà bằng hệ thống chốt sẻ.

Trính cặp hạ phân đều qua 4 cột. Ở hàng cột nhì tiến và hậu kết cấu kèo phụ gồm hai đoạn tre liên kết kèo cột theo thế tung hoành để đỡ mái, chống gió xoáy giật. Để tăng cường sự bền vững của ngôi nhà, người ta đào sâu lỗ cột vách và cột hiên, lấy tre nẹp chặt để làm cừ chống gió bão gây đổ nhà. Phần mái lợp tranh già, các tấm tranh lợp theo lối lợp lớp hoặc kéo trài, đầu tấm tranh buộc lạt chắc chắn vào tui mè và hệ thống đòn tay.

Trên nóc nhà có hai lớp tranh được xếp dày gọi là sắp nóc để chống dột và che mưa nắng. Để tăng cường sự bền vững cho ngôi nhà, người ta dùng tranh già, tre ngâm để xây dựng. Nhìn chung, loại hình nhà tranh vách đất tuy đơn giản, song kết cấu kiến trúc khá công phu. Sự liên kết giữa các bộ phận luôn luôn phù hợp, cân xứng và giữ đúng chức năng, đem lại sự bền vững cho ngôi nhà.

2- Nhà rường

Nhà rường là loại hình nhà ở kiên cố bền vững, kết cấu bộ khung nhà gồm cột, trính, xuyên, rui mè bằng gỗ tốt chịu lực. Quảng Ngãi có rất nhiều nhà rường, được phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh. Niên đại xây dựng những ngôi nhà rường thường có từ 100 năm đến trên 150 năm.

Các ngôi nhà rường cổ ở Quảng Ngãi hầu hết là của những dòng họ, gia đình giàu có, có địa vị nhất định trong xã hội. Nhìn chung mặt bằng kiến trúc nhà chính và nhà phụ của nhà rường đều ở dạng chữ nhất hay chữ đinh, một nửa phần trên giống chữ L. các ngôi nhà rường đều được xây dựng theo thuật phong thủy như hướng nhà, giờ động thổ; nếu hướng nhà ít được thuận lợi thì người ta làm thêm bức bình phong. Mỗi  ngôi nhà rường có hệ thống các công trình phụ, như giếng nước, bếp, chuồng trại,…

Nhà rường có hai dạng, gồm dạng nhà rường điển hình và dạng nhà song nga. Hai dạng này khác nhau ở lối kết cấu và lối bố trí không gian sinh hoạt bên trong ngôi nhà. Phần vỏ mái có khi lợp tranh hoặc lợp ngói âm dương; tường thường được xây bằng gạch hoặc đá ong.

Nhà rường có 5 gian, gồm 3 gian chính và 2 gian phụ (chái), cá biệt cũng có nhà đến 7 gian (5 gian chính và à gian phụ). Thông thường số hàng cột của nhà rường dao động từ 4 đến 7 hàng cột.

Giữa lòng nhà có hàng cột cái (cột chính) cao to, với các tên gọi khác nhau: hai cột trong phía Đông gọi là nhứt đông hậu, hai cột trong phía Tây gọi là nhứt tây hậu, hai cột ngoài phía Đông gọi là nhứt đông tiền, hai cột ngoài phía Tây gọi là nhứt tây tiền. Các cột cái này liên kết với kèo để đỡ khung nhà và mái.

Cột thường được làm bằng gỗ mít, trau chuốt, dáng thượng thu hạ thách, các cột cái được nâng cao hơn bởi các bệ đá. Các cột quân (cột phụ) nhỏ hơn, cũng có các tên gọi như sau: dãy cột quân lùi bên trong hàng cột cái gọi là dãy cột hàng nhì hậu, dãy cột quân tiến phía trước hàng cột cái gọi là cột hàng nhì tiền.

Hai dãy cột này để đỡ kèo nhì gác qua. Ở 4 góc nhà có 4 cột quyết để đỡ kèo quyết, chúng được phân chia thành đông hậu, tây hậu, đông tiền, tây tiền. Bốn cột vách đông tây gọi là cột đấm, có chức năng đỡ các kèo đấm thả xuôi từ cột cái. Các cột cái và cột quân chia không gian nhà ra làm 3 phần: gian chính giữa lẫn hai gian bên thờ phụng, tiếp khách và cũng là nơi ngủ của đàn ông.

Hai chái hai bên là hai buồng gọi là đông phòng và tây phòng. Đây là buồng ngủ của phụ nữ và con cái. Dãy cột vách mặt trước nhà (hàng nhì tiền) gồm 4 cột được kè gỗ làm ngạch tạo thành 3 khuôn cửa để đặt 3 gian cửa bàn khoa bằng gỗ.

Kết cấu kiến trúc nhà rường với bộ khung nhà cột trính, xuyên, kèo liên kết với nhau bằng phương pháp chốt mộng chắc chắn. Bộ vì kèo chính với kiểu đâm trính, vì con đội đòn dông. Vách nhà thường là vách lụa trang trí ô hộc. Trên các đầu kèo thường chạm nổi hình long phù, mặt kèo trang trí những đường kẻ chỉ hay diềm hoa lá.

Đặc biệt trên các kèo hiên (ngạo) thường trang trí hình cá chép hay giao long. Đôi khi hiên trước được xử lý nâng cao, rộng thoáng, với mục đích để làm các rui tàu trang trí các phù điêu theo mô tuýp điển tích cổ.

Cửa bàn khoa trong các ngôi nhà rường đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên mặt diện cho ngôi nhà. Nhà rường thường có 3 gian cửa bàn khoa chính. Mỗi một gian cửa bàn khoa thường có 3 cánh hoặc 4 cánh liên kết nhau bằng chốt gỗ. Bệ dưới của mỗi cửa bàn khoa có ngỏng quay nhằm giúp cho việc đóng mở dễ dàng.

Bệ trên đỉnh cửa có một chốt gỗ được tra theo chiều dọc, để đóng cửa. Mỗi cửa bàn khoa đều có chấn song nằm ở vị trí 1/3 cửa tính từ đỉnh cửa xuống, có tác dụng thông gió và quan sát bên ngoài. Bên trong chấn song còn có một tấm gỗ kéo có chức năng đóng mở. Mỗi gian cửa bàn khoa có cấu tạo bao áp cửa và trụ cánh dọc.

3- Nhà lá mái (nhà đắp)

Kiểu nhà này có hai mái, một mái đất và một mái phía trên có kèo tre lợp tranh. Giữa hai mái này là khoảng trống. Nhà lá mái có số lượng cột từ 36 đến 42 cũng như nhà rường. Tuy nhiên, các cột chịu lực ở giữa nhà đều có kích thước lớn gần như nhau, có tác dụng đỡ tầng mái đất nặng nề. Các cột vách thì nhỏ hơn.

Vì kèo chính của nhá lá mái là kèo rường và vì kèo con đội đòn dông. Con đội được cách điệu kiểu đầu choãi cánh dơi, cánh phụng, chân đế cách điệu cánh sen. Vì kèo thượng đỡ thượng lương và xuôi về hai hàng cột cái, chốt mộng ở đầu cột, kèo hạ còn gọi là kèo nhì liên kết cột cái và hai hàng cột hàng nhì (tiền, hậu).

Phía mặt tiền có hai kèo nối với cột hàng ba và hàng tư gọi là ngạo hàng ba (ngạo thượng) và ngạo hàng tư (ngạo hạ). Một số ngôi nhà ở ngạo hàng tư thay thế bằng bảng trần gỗ gọi là bảng rui tàu chuyển đai, bề mặt được trang trí ô hộc và nhiều mô tuýp hoạ tiết khác nhau theo kỹ thuật chạm nổi.

Phần mái bên trên là vỏ mái tranh, hoặc ngói được đỡ bởi hàng cột chống cắm thẳng qua trần đất mái dưới và gắn trên đầu các cột. Phần mái dưới được đắp đất, bên dưới có một lớp ván gỗ nhỏ tạo cho trần đất luôn bền chắc.

Bên trong nội thất của kiểu nhà lá mái có rất nhiều tác phẩm chạm khắc gỗ tinh xảo, chúng được thực hiện từ bàn tay tài hoa, khéo léo của người thợ theo hai kỹ thuật là chạm thủng và chạm nổi. Nghệ thuật trang trí chạm khắc gỗ được thể hiện ở khắp ngôi nhà, từ hệ thống bảng lồng, bảng rui tàu, bảng võng đến các kèo, trụ chồng,… với nhiều chủ đề trang trí khác nhau.

Nhà lá mái của ông Lê Lý ở Lý Sơn là một điển hình. Ngôi nhà có 42 cột, trong đó có 8 cột cái cao to chắc chắn xếp thành hai hàng, tiếp đến là dãy cột hàng nhì, dãy cột hàng ba và dãy cột hàng tư. Với 6 hàng cột chính đã chia không gian ngôi nhà thành 5 lớp, tính từ trong ra ngoài: Lớp 1 đặt bàn thờ tổ tiên, lớp 2 dùng lễ bái, lớp 3 và lớp 4 là nơi tiếp khách, lớp 5 là hiên ngoài.

Giữa lớp 2 và lớp 3 được ngăn cách nhau bởi hệ thống cửa bàn khoa bên trong, giữa lớp 4 và lớp 5 ngăn cách nhau bởi hệ thống cửa bàn khoa bên ngoài. Đây là nhà lá mái có hai lớp cửa, một kiểu nhà phòng thủ (chống giặc tàu Ô) rất đặc trưng ở đảo Lý Sơn.

4- Kiến trúc nhà ở của người Hrê

Mỗi làng người Hrê cư trú thường có khoảng vài chục ngôi nhà sàn. Nhà sàn của người Hrê được xây dựng quần tụ theo chiều ngang của triền chân đồi. Các ngôi nhà được bố trí theo từng lớp từ thấp đến cao. Người Hrê gọi làng của minh là plây, cách gọi này giống với cách gọi của các dân tộc Bana, Giarai,…

Làng xóm Hrê được xây dựng dọc theo các con sông. Mặc dù tộc người Hrê cư trú trên địa vực rộng lớn của vùng núi rừng miền Tây Quảng Ngãi, song họ vẫn bảo lưu được tập quán xây dựng làng theo lối riêng của dân tộc mình. Làng Hrê có chung những đặc điểm xây dựng theo địa hình cảnh quang, được bố trí kiến tạo ven theo triền chân đồi, cao ráo, quang đãng.

Người Hrê luôn luôn chọn vị trí làng của họ ở về phía Đông, Tây hoặc phía Nam triền chân đồi. Họ lấy quả đồi nơi cư trú hoặc những dãy núi xung quanh để che chắn ngọn gió Bấc của mùa Đông khắt nghiệt. Làng luôn quay mặt về phía có gió nồm để được thoáng mát, đón ánh sáng mặt trời buổi sáng để đề phòng và trừ khử dịch bênh. Làng Hrê luôn luôn xây dựng liền kề với vùng ruộng canh tác.

Người Hrê làm nhà vào thời gian tháng 8 và tháng 9 trong năm. Các loại gỗ rắn chắc như gỗ ké, gỗ mít… được ưa chuộng, dùng làm cột sàn, cột vách, kèo, trính. Người Hrê thường đốn cây gỗ vào ngày 29, 30 (âm lịch) của các tháng Hè và Thu, bởi vì trong thời điểm này nhựa thân trở nên ít, khiến cho các thớ gỗ không bị mối mọt phá hoại.

Khi xây dựng các nhà sàn, người Hrê đặc biệt chú ý không để đường đi trong làng đêm thẳng vào cửa giữa (mang), cửa trước (móc inh chin) và cửa sau (móc inh doong), vì điều đó sẽ xảy ra đau ốm, bệnh tật cho gia chủ hoặc những điều không hay khác cho gia đình.

Thời gian để dựng hoàn thành một ngôi nhà sàn Hrê trong vòng từ 4 đến 6 ngày theo một số thao tác, quy trình như sau:

Bước 1: dựng 2 hàng cột sàn và cột vách

Bước 2: dựng bộ khung nhà gồm: gác trính, xà qua các đầu cột theo kiểu ngoài buộc dây mây, đồng thời gác tay kèo ở hai đầu hồi, sau đó gác đòn tay mái nằm theo chiều dọc của ngôi nhà.

Bước 3: vỏ mái gồm ron, mè kết cấu theo lối buộc nẹp ngang dọc song song nhau và được làm trước ở dưới mặt đất, sau đó đưa lên buộc vào các đòn tay mái để làm vỏ mái.

Bước 4: Tạo dựng sàn bằng hệ thống cây ngang dọc, có kết cấu với nhau hết sức chặt chẽ qua hệ thống dây buộc vào cột nhà và cột nâng sàn, sau đó mặt sàn được trải lớp giát sàn bằng tre ken mây phẳng phiu. Vách nhà được làm bằng tre đan phên ken dày, hoặc dùng cây rừng tròn, có đường kính 2- 2,4cm ghép sát vào nhau lấy dây mây buộc chặt.

Do kết cấu kiểu dạng và lắp ráp như trên nên khi dỡ nhà, người Hrê thao tác rất nhanh. Trước tiên họ tháo rời mái nhà bằng cách cắt các dây buộc hai mái liên kết với nhau qua đòn giông (rú qua) và tách rời mái với phần đầu cột và vách nhà, sau đó họ tách khiêng đi hai mái rời của ngôi nhà đi đến nơi mới.

Mặt bằng sinh hoạt của nhà người Hrê gồm hai đầu tra sàn ngoài là nơi tiếp khách, sinh hoạt của ông bà chủ nhà. Bên trong tính từ cột thiêng trở đi là nơi ở của hai vợ chồng chủ nhà, tiếp đến là con lớn đến con nhỏ. Nhà Hrê có 2 cửa chính ở hai đầu tra và một cửa mang ở hông nhà.

Một vấn đề quan trọng khác không thể không đề cập trong kết cấu kiến trúc nhà sàn của người Hrê là cách thức buộc mây để liên kết các bộ phận kiến trúc của ngôi nhà sàn. Phương pháp liên kết bằng cách thức buộc mây là phương pháp phổ biến, sáng tạo, độc đáo và là đặt trưng trong ngôi nhà sàn Hrê. Trên mái nhà của người Hrê còn có biểu tương hai cặp sừng trâu bằng rơm.

5- Kiến trúc nhà ở của người Cor

Nhà ở dân gian truyền thống của người Cor là nhà xlúp, là kiểu nhà dài của một làng cùng cư trú. Hiện nay kiểu nhà này không còn nữa, họ đã tách ở riêng theo kiểu nhà trệt. Nhà sàn xưa kia của người Cor giống một toa tàu hỏa. Dân làng góp sức làm chung ngôi nhà, sau đó từng hộ được chia diện tích để phù hợp với nhu cầu sử dụng.

Bao giờ vị trí máng nước đổ về cũng ở phía đầu nhà. Ngôi nhà có thể được nối dài thêm khi có những gia đình đến nhập cư sau. Dưới gần sàn dùng xếp củi, nhốt lợn, gà; trên sàn thì người ở. Ngoài ra, nhà còn có 2-3 sàn phụ để phơi lúa, cất đồ đạc, sấy thuốc lá…

Hiện nay, những ngôi nhà trệt có từ 3- 5 hộ hay 6-7 hộ cùng cư trú còn khá phổ biến. Đó là kiểu nhà xlúp truyền thống nay được biến dạng qua kiểu nhà trệt vách đất hoặc vách bằng tre nứa nhưng vẫn giữ nguyên không gian cư trú như xưa của các hộ gia đình. Mỗi hộ cư trú bên trong ngôi nhà dài đó được tách riêng bằng các bức ngăn làm từ gỗ rừng hay tre nứa đập giập.

Ngôi nhà này tuy có cửa ra vào trổ ở mặt bên, nhưng lối đi lại dọc từ đầu đến cuối nhà vẫn giữ nguyên. Lối kết cấu vì cột còn thông dụng, tương tự ở các dân tộc miền núi khác trong khu vực Trường Sơn- Tây Nguyên. Đặc biệt, trong nhà có bộ phận sạp ngủ, là sự lặp lại cách làm sàn.

Mặt bằng sinh hoạt chính trong ngôi nhà truyền thống của người Cor chia làm ba phần theo chiều dọc nhà đó là: truôk, tum và gươl. Truôk là đường hành lang chạy suốt từ đầu đến cuối nhà, hai phía đều thông ra ngoài qua cửa. Tum là phần không gian sinh hoạt cho từng hộ, ở đó có đặt bếp lửa, chỗ ngủ của các cặp vợ chồng, con cái và các vật dụng đồ đạc.

Từ các buồng đó đều mở cửa trông ra truôk. Đối diện với Tum quan truôk và gươl- phần diện tích để thoáng, không ngăn thành các buồng. Nơi đây chủ yếu dùng làm chỗ sinh hoạt cho đàn ông: tiếp khách, uống rượu, cúng, ngủ, gõ chiêng,…

Hình thức nhà xlúp của người Cor là kiểu kiến trúc khá đặc biệt ở vùng Trường Sơn- Tây Nguyên, có thể tìm thấy bóng dáng ngôi nhà này ở một số tộc người trên các quốc đảo vùng Thái Bình Dương.

Nhà xlúp là hình thức quần cư của cả cộng đồng làng trong không gian nóc nhà dài. Ở đây khái niệm làng- nóc dung hợp làm một. Hình thái cư trú nhà dài truyền thống của người Cor xưa kia là một cách bảo tồn cộng đồng trước sự tác động bất lợi từ bên ngoài.

Ngày nay, hầu hết đồng bào Cor đã và đang chuyển sang làm nhà trệt vách ván hoặc vách nứa, mái lợp tranh hay lá gồi, một số gia đình giàu có còn thuê thợ đồng bằng làm theo kiểu nhà xuyên trính ở đồng bằng miền Trung.

6- Kiến trúc nhà ở của người Ca Dong

Đơn vị cư trú của tộc người Ca Dong là plây pla (làng xóm). Các ngôi nhà sàn trong làng được xây dựng tùy theo địa hình nhưng buộc phải nằm theo cùng một hướng, không được cắt phá nhau. Vì vậy nhìn từ xa các ngôi nhà sàn Ca Dong phân bố theo từng lớp trên sườn đồi trông rất đẹp.

Do điều kiện sinh sống trên núi cao nên việc chọn đất làm nhà lập làng của người Ca Dong là một việc không đơn giản. Họ lập làng trên các khu vực đất bằng phẳng ở vùng triền đồi, chân núi, triền đất cao trong vùng thung lũng. Làng phải gần vùng ruộng, rẫy canh tác, phải tránh lập làng gần kề suối, sông vì có nhiều rũi ro vào mùa mưa lũ.

Đặc trưng tập quán cư trú xưa kia của người Ca Dong là theo hình thái cư trú nhà sàn dài của một đại gia đình phụ hệ, nghĩa là có nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ, cháu chắt cùng cư trú trong một ngôi nhà. Sự phân bố không gian của các tiểu gia đình trong ngôi nhà được tính từ cây cột thiêng cạnh bếp lửa. Ngày nay, hình thái cư trú kiểu này còn ít, mà thay vào đó là hình thái cư trú các tiểu gia đình.

Nhà sàn người Ca Dong ở hai đầu nhà đều có cửa và hai cầu thang lên xuống. Kết cấu kiến trúc nhà sàn người Ca Dong cũng như các dân tộc Cor, Hrê là ngôi nhà thường chia là 3 phần: cột sàn, vách và sàn, mái. Bộ khung nhà của người Ca Dong gồm cột nhà, cột sàn, xuyên, trính, kèo làm bằng các loại gỗ tốt.

Kết cấu kiểu vì cột. các bộ phận kiến trúc liên kết với nhau bằng phương pháp ngoãm và buộc mây. Vách và sàn làm bằng nứa lồ ô. Mái nhà lợp tranh. Không gian bên trong ngôi nhà được bố trí: phía đầu nhà là bếp chính của gia đình, để dụng cụ nấu nướng và bát đĩa- đây là một trong những vị trí thiêng trong nhà.

Dịch sang bên cạnh là cây cột thiêng dùng để cúng thần linh. Tính từ cây cột thiêng, không gian sinh hoạt trong ngôi nhà được phân chia như sau: gian cạnh bếp chính và cột thiêng là nơi ngủ của cha mẹ, tiếp đến là nơi ngủ của con cái trong gia đình từ lớn đến nhỏ. Vị trí ở gian giữa có cửa hông là nơi tiếp khách và khách ngủ ở đó.

Người Ca Dong khi ngủ quay đầu về hướng thấp. Trong nhà, một bên vách đặt hàng ché đựng rượu, phía trên là giàn để dụng cụ và bắp trái. Đặc biệt ở trên vách của gian tiếp khách, chủ nhà thường để cung tên, xương má của các loài thú săn bắn được.

Kiến trúc thành quách ở Quảng Ngãi

KIẾN TRÚC THÀNH QUÁCH Ở QUẢNG NGÃI

1- Thành cổ Châu Sa

Nằm ở xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, còn gọi là thành Hời, là một ngôi thành đất được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ IX- X. Phía Tây giáp núi Bàn Cờ, Nam giáp sông Trà Khúc, Bắc giáp núi Đầu voi.

Thành Châu Sa gồm một thành ngoại và một thành nội, theo bình đồ hình chữ nhật. Thành nội chiều ngàng 558m, chiều dài 586m, chân rộng 25m, bề mặt rộng 5,2m. Thành ngoại có hai bờ dài 600m, chạy ra giáp sông Trà Khúc. Thành có hào rộng 12m, bọc thành ngoài. Sách Đại Nam nhất thống chí, phần về tỉnh Quảng Ngãi có ghi là chu vi thành hơn 5 mẫu, 2 sào.

2- Hệ thống phòng thành Cổ Lũy

Thuộc xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, nằm bên hữu ngạn sông Trà Khúc, gần cửa Đại Cổ Lũy, do vương quốc Chămpa xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ IX, X, là hệ thống phòng thành cho thành Châu Sa. Hệ thống phòng thành Cổ Lũy có 3 vòng thành: thành Bàn Cờ, thành Hòn Yàng, lũy Cổ Lũy.

Thành Bàn Cờ là công trình chính của hệ thống phòng thành Cổ Lũy, có hình thang cân, cạnh trên 52m, đáy 60m, cao 25m, diện tích mặt thành khoảng 500m2. Bờ thành Bàn Cờ vốn được xây bằng gạch. Trên mặt thành có tháp Chăm, nhưng nay đã bị phá, chỉ còn ngổn ngang gạch vỡ.

Thành Hòn Yàng, cách thành Bàn Cờ khoảng 300m về phía Bắc, gần sát sông Trà Khúc, là một thành cổ được đắp bằng đất, nhỏ hơn thành Bàn Cờ, cũng có 2 bờ thành nội và ngoại.

Lũy Cổ Lũy nằm cách cửa Đại khoảng 700m, nay còn ít dấu vết.

3- Thành cổ Xuân Quang

Thuộc thôn Xuân Quang, xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, do Trấn Nam dinh Phó đô tướng Mai Đình Dõng tổ chức xây dựng từ cuối thế kỷ thứ XVI. Sách Đại Nam nhất thống chí, Quảng Ngãi nhất thống chí cũng cho biết, thành Xuân Quang được đắp bằng đất, cao 5 thước (2m), đông tây 53 trượng (106m), nam bắc 92 trượng (184m). Nay thành đã bị tàn phá, chỉ còn lại một vài dấu tích.

4- Thành tỉnh Quảng Ngãi

Nằm trong khu vực thành phố Quảng Ngãi hiện nay. Thành được xây dựng từ năm 1807, xây đá ong năm 1815. Thành tỉnh Quảng Ngãi có kiến trúc theo kiểu vôbăng (vauban) của người Pháp, bình đồ vuông, được xây bằng đá ong, chu vi hơn 2.000m, cao 4m, tổng diện tích trên 26ha. Thành có 3 cửa là Đông, Tây, Bắc.

Bên trong cửa thành có các con đường lát gạch. Cửa thành xây hình vòm cuốn, có vọng lâu, có trang bị súng thần công. Hào thành rộng hơn 20m, thông với sông Trà Khúc.

Thời phong kiến, trong thành có các ty Phiên, ty Niết (ty Bố chánh và ty Án sát) là các cơ quan đứng đầu chính quyền cấp tỉnh, hành cung (là nơi dành cho vua nghỉ trên đường kinh ký), sau còn có các dinh thự khác, như dinh Tuần vũ, Lãnh binh, Đốc học, Thái y viện,… vào thời Pháp thuộc còn có Sở Lục lộ, Dinh Phó sứ, Bưu điện,…

Thành được san bằng để thực hiện tiêu thổ kháng chiến từ năm 1947, nên ngày nay chỉ còn một và dấu vết ở phía Nam và phía Đông thành, hào thành.

Trước khi thành Quảng Ngãi dời về địa điểm hiện nay, lỵ sở dinh, trấn Quảng Ngãi đóng ở Phú Nhơn, Sơn Tịnh, sau dời về làng Phú Đăng (thuộc phủ Tư Nghĩa), nhưng nay các thành này gần như không còn dấu vết. Thành Phú Đăng hiện cũng chưa xác định được địa điểm.

Ở Quảng Ngãi còn có thành cổ Bình Sơn, thuộc huyện Bình SƠn, sách Đại Nam nhất thống chí và các sử liệu cũ khác có ghi: thành ở phía Tây trại An Hoà và Kim Thành, tương truyền thành là lỵ sở cũ của huyện Bình Dương đời Lê, chỗ đóng thành là Thượng Nha. Nay dấu vết thành cũng đã hoàn toàn mờ nhạt.

Di tích văn hóa thời đại tiền Sa Huỳnh

DI TÍCH VĂN HOÁ THỜI ĐẠI TIỀN SA HUỲNH

(Thuộc nhóm các di tích thời đại đồng thau)

1- Long Thạnh

Di tích Long Thạnh phía Đông giáp biển, phía Tây giáp đầm nước ngọt An Khê, phía Bắc giáp đồi cát Phú Khương, phía Nam chính là thôn Long Thạnh, thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ. Viện Khảo cổ học và Bao tàng Lịch sử Việt Nam đào thám sát và khai quật vào các năm 1977, 1978.

Sau đó, có nhiều đợt khảo sát của các nhà khảo cổ học trong nước và nước ngoài. Cuộc khai quật năm 1978 tìm thấy di chỉ cư trú có tầng văn hoá dày trên 2m phát triển từ sớm đến muộn và khu mộ táng có 16 quan tài chum gốm chôn đứng. Các chum chôn theo từng cụm vài chiếc cạnh nhau đã phản ánh quan hệ thân tộc của cư dân cổ Long Thạnh.

Chum gốm Long Thạnh có hai loại hình trứng và hình cầu, hầu hết bên trên có nắp đậy. Bên trong chum có chứa rất nhiều đồ tùy táng gồm đồ đá, đồ xương và đồ gốm. Tuy nhiên, số lượng di vật tuỳ táng bên trong các chum không đồng đều, điều đó có thể là biểu hiện cộng đồng xã hội của cư dân cổ Long Thạnh đã có sự phân chia giàu nghèo.

Đặc trưng bộ sưu tập di vật của cư dân cổ Long Thạnh rất phong phú. Công cụ sản xuất bằng đá bao gồm các loại cuốc đá diệp thạch dạng “lưỡi mèo”, bôn rìu dạng “răng trâu”, rìu vai, rìu tứ giác, rìu tam giác, bàn mài, dao, đục,… Tính đa dạng và số lượng nhiều của công cụ sản xuất cho thấy cư dân cổ Long Thạnh có trình độ nông nghiệp phát triển.

Bộ sưu tập đồ trang sức từ đá ngọc nephrit rất phong phú, gồm có khuyên tai hình vành khăn, khuyên tai có mấu hình đuôi cá, hạt chuỗi hình đốt trúc, khuyên tai hình tròn bản dẹt có khe hở,… Hầu hết đồ trang sức được chế tác, mài dũa và tạo hình công phu, thể hiện tính thẩm mỹ cao của chủ nhân.

Đồ gốm của cư dân cổ Long Thạnh thực sự là những tác phẩm nghệ thuật, đó là những chiếc bình lọ hoa gốm có chung đặc điểm la cổ cao, miệng loe, eo cổ tròn và bụng tròn, có chân đế hoặc không. Đặc trưng của bình lọ hoa gốm Long Thạnh là tạo dáng cân đối, các đường cong lượn mềm mại, toàn thân bình phủ kín các loại hoa văn, trên đó nổi bật đồ án chữ S có tô chì bên trong, mô tả cách điệu các loại sóng biển.

Hầu như trên tất cả các đồ đựng bằng gốm, đồ trang sức bằng đá quý đều được cư dân cổ Long Thạnh chú ý chế tác công phu. Đây là điểm đặc trưng nổi bật, phản ánh niên đại rất sớm của Long Thạnh.

Di tích Long Thạnh đại diện cho các di tích tiền Sa Huỳnh sơ kỳ đồng thau. Niên đại tuyệt đối C14 : 2875 ± 60 B.P (Bln. 2054) độ sâu 0,6m và 3370 ± 40 B.P (77GMV- TS), độ sâu 1,20m. Niên đại tương đối của di tích khoảng trên 3.000 năm cách ngày nay.

2- Bình Châu I

Di tích Bình Châu I phân bố trên  một trảng cát lớn gần biển thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn. Viện khảo cổ học khai quật năm 1978 trên hai địa điểm gồm: gò Ông Đảnh và gò Ông Sáo.

Kết quả khai quật di tích Bình Châu I cho thấy, ở đây có hai khu cư trú và khu mộ táng. Khu mộ táng tìm thấy 7 mộ đất, đồ tùy táng gồm nồi, bát bồng, bình con tiện, đều được đặt úp ngược hoặc nghiêng.

Đặc trưng di vật Bình Châu I gồm có các loại: đồ đá (cuốc đá lưỡi xoè nở hình trái tim), đồ đồng (có mũi tên, lao, lưỡi câu), đồ gốm (có các loại nồi miệng loe, vai gảy, đáy chỏm cầu, các loại bát bồng chân thấp và chân cao, bình hình con tiện, chén gốm), loại trang sức khuyên tai gốm hình đĩa.

Đặc trưng đồ gốm Bình Châu I là trên thân đồ gốm luôn được tô đỏ để làm nổi bật các băng dải tô chì ở vành miệng, vai và chân đế. Tại di tích Bình Châu I còn tìm thấy mảnh nồi nấu đồng, là bằng chứng của nghề đúc đồng. Niên đại của Bình Châu I ở giai đoạn đồng thau phát triển, cách nay khoảng trên 2.500 năm.

3- Bình Châu II

Di tích Bình Châu II, thuộc thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn. Đặc trưng di tích Bình Châu II phân bố ở vùng thấp ven sông, tầng văn hoá cư trú dày trên 2m, có kết cấu đất pha cát, chuyển biến từ sớm đến muộn.

Trong tầng văn hoá có đan xen mộ đất, mộ vò. Di vật Bình Châu II phong phú về chủng loại. Nằm ở lớp sớm có các công cụ đá như bôn hình răng trâu, rìu vai, cuốc hình lưỡi mèo, bàn mài và chày nghiền. Nằm ở lớp muộn có đồ đồng các loại, như rìu xoè cân, mũi nhọn đồng, đặc biệt có nhiều xỉ đồng, hạt đồng, nồi nấu đồng, muôi rót đồng,…

Qua các hiện vật này, có thể thấy ở tầng văn hoá lớp muộn của di tích Bình Châu II đã có dấu hiệu của nghề luyện kim đồng khá phát triển. Đồ xương có nhiều mũi nhọn, xương có dấu vết chế tác. Đồ gốm có các loại hình nồi, bát bồng, bình hình con tiện, nồi minh khí, dọi xe chỉ.

Đặc trưng đồ gốm Bình Châu II có sự chuyển biến về mặt loại hình từ sớm đến muộn. Niên đại tương đối của lớp sớm Bình Châu II khoảng 3.000 năm ở giai đoạn sơ kỳ đồng thau, lớp muộn ở giai đoạn đồng thau phát triển, tương ứng với niên đại di tích Bình Châu I.

Các di tích Long Thạnh, Bình Châu II, Bình Châu I thuộc phạm trù của dòng chảy văn hoá Tiền Sa Huỳnh, không gian tồn tại và phát triển ở thời đại đồng thau. Các dòng chảy văn hoá Tiền Sa Huỳnh là nền tảng, tạo động lực quan trọng để tiếp tục phát triển lên thời đại sắt sơ kỳ của Văn hoá Sa Huỳnh.

DI TÍCH VĂN HÓA SA HUỲNH

(Thuộc nhóm các di tích thời đại đồ sắt)

1- Phú Khương

Di tích phân bố trên cồn cát Sa Huỳnh cạnh đầm An Khê, thuộc thôn Phú Khương, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ. Vị trí phía Đông giáp biển, phía Tây giáp đầm An Khê. Di tích Phú Khương được Vinê (M. Vinet) phát hiện năm 1909; La Barơ (La Barre) khai quật năm 1923. Kết quả khai quật được Pacmăngchiê (H. Parmentier) chỉnh lý và công bố.

Di tích Phú Khương là khu nghĩa địa dày đặc các quan tài chum gốm, được chôn cạnh nhau trên cồn cát, một bên là biển và một bên là đầm nước ngọt. Các quan tài chum có hai dạng hình trứng và hình trụ, có kích thước lớn, cao gần 1m. Di vật Phú Khương có các loại bằng đồng thau, gồm có chuông, lục lạc, tượng và chậu.

Di vật bằng sắt chủ yếu là các công cụ sản xuất là vũ khí. Đồ trang sức có các hạt chuỗi ma não và thủy tinh, dạng hình tròn, hình trụ, hình thoi, hình đa diện, với các màu xanh, đỏ, tím, hồng.

Khuyên tai hình vành khăn dẹt có khe hở, hình vuông dẹt có khe hở, khuyên tai bốn mấu nhọn và ba mấu nhọn. Di tích Phú Khương thuộc giai đoạn sơ kỳ sắt, niên đại tương đối vào khoảng trước Công nguyên một vài thế kỷ.

2- Thạnh Đức

Di tích thuộc thôn Thanh Đức, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ. Đây là khu nghĩa địa mô chum văn hoá Sa Huỳnh nằm trên cồn cát cổ, một bên giáp với biển Đông, một bên giáp với đầm nước Tân Diêm.

Di tích được La Barơ khai quật năm 1923 với khoảng 120 mộ chum. Đến năm 1934, Côlani (M. Colani) khai quật được 55 chum. Đây là khu nghĩa địa lớn của cư dân Văn hoá Sa Huỳnh.

Các chum ở Thạnh Đức có dáng hình trụ, cao gần 1m, trên có nắp đậy hình nón cụt. Các chum chôn đứng theo từng cụm, bên trong chum chứa nhiều đồ tuỳ táng, bao gồm: các loại lục lạc, vòng tay đồng sắt kết hợp giáo, dao, rựa, cuốc, thuổng,… bằng sắt. Hạt chuỗi ma não (agate), đá ngọc nephrit và hạt chuỗi hình cầu, hình thoi, hình tròn.

Trong chum chứa nhiều đồ gốm như nồi, bát hồng, bình,… được trang trí tô chì và nhiều hoa văn đẹp. Niên đại tương đối của di tích khu mộ chum Thạnh Đức vào khoảng trước công nguyên một vài thế kỷ.

3- Gò Quê

Di tích Gò Quê ở thôn Sơn Trà, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, được khai quật năm 2005, tìm thấy 21 mộ chum và 10 mộ đất, trên 60 di vật tùy táng. Di tích Gò Quê là khu nghĩa địa của cư dân văn hoá Sa Huỳnh chôn trên cồn cát có độ cao 5- 6m, nằm trong vùng vịnh Vũng Quýt, ở về phía Nam cửa Sa Cần của sông Trà Bồng.

Khu nghĩa địa này tồn tại hai tục chôn cất của cùng một chủ nhân, đó là tục chôn cất bằng quan tài chum gốm và tục chôn mộ đất. Các quan tài chum Gò Quê có kích thước lớn, cao khoảng 1m, chôn đứng theo từng cụm khoảng 4- 5 chiếc cạnh nhau.

Trong chum có nhiều đồ tùy táng, bao gồm: đồ đồng (có giáo, rìu, dao găm, khuy áo), đồ sắt (có kiếm, dao găm, quặng sắt); đồ đá quý và thủy tinh làm trang sức (có khuyên tai tinh thể đá thạch anh (quarzite), hạt chuỗi ma não (agate), các khuyên tai đá ngọc nephrit gồm các loại ba mấu nhọn, bốn mấu nhọn, ống chuỗi làm vòng đeo).

Đặc biệt, bên trong chum có chứa nhiều đồ gốm như nồi, bình, bát. Ngoài mộ chum, ở Gò Quê còn có nhiều mộ đất chôn đồng thời với mộ chum, của cùng một chủ nhân. Đặc trưng mô đất Gò Quê là các đồ tuỳ táng được đặt nghiêng, hoặc úp, bị đập vỡ hay ghè chân đế giống với phong cách táng tục của cư dân Bình Châu I, Bình Châu II thuộc giai đoạn Tiền Sa Huỳnh.

Đồ tuỳ táng trong mô đất có các loại: đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm, đặc biệt có thanh đao đồng sắt kết hợp. Di tích Gò Quê là khu nghĩa địa lớn của cư dân văn hoá Sa Huỳnh có những tục táng đặc biệt, như tục táng đồng hành mộ đất và mộ chum, hiện tượng rải gốm trong mộ, các đồ gốm tuỳ táng trong mộ đều ghè vỡ, đồ gốm tuỳ táng đặt cả bên trong và bên ngoài chum, hiện tương phân chia giàu nghèo, vai trò thủ lĩnh thông qua các di vật tuỳ táng.

Trong mộ của chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh này có nhiều đồ đồng Đông Sơn như rìu, giáo, dao găm, hộ tâm phiến (tấm che ngực), khuy áo, đặc biệt thanh đao đồng sắt kết hợp, minh chứng cho sự kết hợp kỹ thuật Sa Huỳnh và Đông Sơn.

Niên đại tuyệt đối C14 của di tích Gò Quê, mẫu 1 là 1980 ± 50 B.P và mẫu 2 là 2040 ± 50 B.P, cách ngày nay. Niên đại tương đối của di tích mộ táng Văn hoá Sa Huỳnh Gò Quê ở vào khoảng trước công nguyên một và thế kỷ.

4- Xóm Ốc

Di tích Xóm Ốc ở thôn Đông, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, nằm bên bờ suối Ốc, gần bờ biển phía Nam đảo. Di tích do Đoàn Ngọc Khôi đào thám sát phát hiện năm 1996, Viện khảo cổ học phối hợp với tỉnh Quảng Ngãi khai quật năm 1997.

Di tích Xóm Ốc là nơi cư trú của cư dân Văn hoá Sa Huỳnh, đồng thời trong tầng văn hoá có xen lẫn mộ táng. Tầng văn hoá cư trú của cư dân cổ dày trên 1,50m, có cấu tạo đất bazan pha cát ken dày vỏ các loài nhuyễn thể. Qua các tầng văn hoá Xóm Ốc được khai quật cho thấy, cư dân cổ ở đây cư trú ổn định lâu dài.

Môi trường sống của cư dân Văn hoá Sa Huỳnh ở Xóm ốc là biển đảo nên nguồn thực phẩm chủ yếu của họ là khai thác các loài thủy sản. Mộ táng Xóm Ốc có loại mộ đất chôn song táng, gồm hai người nam và nữ, di cốt còn nguyên. Ngoài ra còn có loại mộ nồi, vò chôn đứng, chủ yếu là chứa các di cốt trẻ em.

Di vật Xóm Ốc có đồ đá như rìu, cuốc, bàn mài, đồ đồng như rìu, mũi tên, lưỡi câu, đồ sắt như dao, đồ đá quý và thủy tinh làm trang sức như khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi, đồ gốm có nồi vai gãy, bình hình con tiện, bát bồng. Đặc biệt, Xóm Ốc có bộ sưu tập di vật mang đặc trưng sắc thái biển tương đồng văn hoá với các đảo trong khu vực lòng chảo Thái Bình Dương, đó là các công cụ và trang sức chế từ vỏ tridacna (ốc tai tượng), nắp turbo (ốc mặt trăng), ốc hoa (ốc tiền),…

Qua di tích và di vật Xóm Ốc có thể thấy nguồn gốc hình thành nên Văn hoá Sa Huỳnh trên đảo khởi đầu từ các dòng chảy văn hoá Tiền Sa Huỳnh ở đất liền như Long Thạnh, Bình Châu I, Bình Châu II hình thành nên. Trong quá trình phát triển, cư dân văn hoá Sa Huỳnh ở Xóm Ốc giao lưu mạnh mẽ trong khu vực hải đảo và lục địa để tàm tăng sức sống nội sinh.

Niên đại tuyệt đối C14 mẫu 1: 1910 ± 60 B.P và mẫu 2 là 1900 ± 60 B.P. Niên đại tương đối lớp sớm của Xóm Ốc cách nay khoảng 2.500.

5- Suối Chình

Di tích Suối Chình nằm trên cồn cát cạnh biển, phía Đông đảo Lý Sơn, thuộc xã An Hải. Di tích được Phạm Thị Ninh khai quật năm 2000. Di tích Suối Chình có nguồn gốc phát triển từ giai đoạn muộn của Xóm Ốc. Di tích Suối Chình là nơi cư trú của cư dân văn hoá Sa Huỳnh, đồng thời trong tầng văn hoá có xen lẫn mộ táng.

Tầng văn hoá Suối Chình có cấu tạo đất đỏ pha cát biển, gốm xen lẫn vỏ nhuyễn thể (do con người cư trú ăn bỏ lại). Trong tầng văn hoá có chứa mộ nồi chôn úp nhau theo chiều thẳng đứng, đồ tuỳ táng được đặt bên trong hoặc bên ngoài. Bên trong các mộ nồi đều có di cốt trẻ em.

Đặc trưng di vật đồ đá gồm có rìu, mai, cuốc, bàn mài…; đồ sắt có dao, kiếm; đồ trang sức bằng đá quý, thủy tinh như khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi, đặc biệt có đồ trang sức hạt chuỗi, vòng đeo, được chế tác theo cách khoan mài tinh vi từ lõi tridacna và các loại ốc, sò; đồ gốm có các loại nồi, bát. Niên đại Suối Chình ở vào khoảng đầu Công nguyên.

Di tích thời đại đá cũ / đá mới

DI TÍCH THỜI ĐẠI ĐÁ MỚI

Di tích Giếng Tiền

Đầu năm 2006, một số nhà khảo cổ học đã tình cờ phát hiện trên bậc thềm cổ của miệng núi lửa Giếng Tiền ở phía Bắc đảo Lý Sơn có các công cụ đồ đá cũ. Các di vật thu nhặt gồm rìu tay, hòn ghè, hòn ném, bàn mài, vòng trang sức, đặc biệt có rất nhiều mảnh tước bị tách ra trong quá trình chế tác công cụ.

Bước đầu các nhà khảo cổ học đã xác định đây là di tích cư trú và cũng là xưởng chế tác đá của cư dân ở sơ kỳ thời đại đá cũ, cách nay khoảng 30 vạn năm. Di tích giếng tiền có thể sánh tương đương với di tích đá cũ ở Núi Đọ (Thanh Hoá). Đây là di tích đá cũ đầu tiên được phát hiện ở Quảng Ngãi cũng như ở miền Trung Việt Nam.

Di Tích Gò Trá

Năm 1978, các nhà khảo cổ học đã thu nhặt các công cụ đá ở bậc thềm cổ Gò Trá thuộc thôn Trà Bình, xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh. Quá trình xâm thực đã làm lộ ra các di vật của cư dân thời đại đá cũ, gồm rìu tay, hạch đá, công cụ mũi nhọn hình tam diện, mảnh tước nằm ở độ sâu 0,50m.

Theo các nhà khảo cổ học thì dạng rìu tay bằng chất liệu đá thạch anh (quarzite) có niên đại muộn hơn Núi Đọ (Thanh Hoá), Xuân Lộc (Đồng Nai) thuộc cuối sơ kỳ đá cũ, cách nay khoảng 14- 15 vạn năm.

Bộ di vật đá cũ ở Tịnh Thọ có mối tương đồng với các di vật đá cũ ở hang Thẩm Òm (Nghệ An) về chất liệu đá thạch anh, nhưng ở hang Thẩm Òm di vật cùng xương răng động vật hoá thạch ở hang trong lớp trầm tích thuộc đầu hậu kỳ cách tân, trong khi đó những di vật đá cũ ở Gò Trá lại nằm ngoài trời ở thềm cổ gần sông nên có khả năng trôi dạt từ nơi khác đến.

Hai di tích thuộc thời đại đá cũ Giếng Tiền và  Gò Trá cho biết con người đã sinh sống trên vùng đất Quảng Ngãi từ buổi bình minh của lịch sử loài người. Đây là bước khởi đầu văn minh của người nguyên thủy để từ đó phát triển lên thời đại đá mới.

DI TÍCH HẬU KỲ ĐÁ MỚI

Di tích Trà Phong

Là di tích được phát hiện và khai quật năm 2001. Địa điểm khai quật nằm bên triền đồi thung lũng sông Nước Niêu thuộc xã Trà Phong, huyện Tây Trà. Tầng văn hoá dày trung bình 0,65m, trong đó chứa các di vật như phác vật rìu, rìu vai, bàn mài, cuộn lăn gốm cùng rất ít mảnh gốm thô đỏ.

Đặc trưng công cụ di tích Trà Phong khá gần gũi với văn hoá Biển Hồ (Tây Nguyên) ở loại hình rìu có vai chế tác từ đá lửa (shilex) rất cứng, hình dáng đốc dài, lưỡi xòe, vai ngang, thân hình cong lồi thấu kính, rìa lưỡi mài sắc. Loại bàn mài nhiều mặt cũng chế tác từ đá lửa, loại cuội lăn gốm có nguồn gốc từ sông suối và một khối đá nguyên liệu bằng ngọc thạch.

Di tích Trà Phong thuộc thời đại đá mới ở giai đoạn hậu kỳ đã chớm qua sơ kỳ kim khí, có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Trên triền đồi thấp, gò thấp của vùng thung lũng sông Nước Niêu, sông Tang, sông Xà Lò,… Là những phụ lưu thượng nguồn sông Trà Khúc đều tìm thấy các công cụ đá như ở di tích Trà Phong. Cư dân hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí Trà Phong cư trú trên khu vực rộng của vùng thung lũng thượng nguồn sông Trà Khúc. Bộ sưu tập của cư dân hậu kỳ đá mới có đặc trưng riêng.

Đó là loại rìu mài toàn thân và sử dụng đến tận cùng đốc rìu, loại rìu vai có nấc, loại bàn mài bằng đá lửa rất cứng được tận dụng trên mọi bề mặt của khối đá hình lập phương. Đặc biệt, khuyên tai đá hình bầu dục làm bằng đá cuội cát kết có xuyên lỗ để đeo.

Hiện nay, các nhà khảo cổ học tìm thấy các hiện vật thuộc hậu kỳ đá mới ở vùng thấp hơn như Trà Xuân (Trà Bồng) và Gò Nà (Bình Sơn). Từ đó cho thấy, cư dân hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí Trà Phong có xu hướng tiến dần xuống đồng bằng thấp hơn để chiếm lĩnh, khai thác.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa

1. Nguồn gốc và chức năng đội Hoàng Sa:

Về quần đảo Hoàng Sa đã có một số tư liệu của tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là của các sử thần, các học giả thời phong kiến Việt Nam. Nguồn tư liệu đầu tiên có nhắc đến đảo Hoàng Sa và đội Hoàng Sa là mấy dòng trong lời chú Toản tập Thiên Nam Tứ chí lộ đồ của Đỗ Bá (năm Chính Hòa thứ 7- 1686): “Bãi Cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển khoảng từ cửa Đại Chiêm kéo đến cửa biển Quyết Mông (cửa Sa Kỳ -TG).

Gió tây nam thuyền đi phía trong sẽ dạt lại đó. Gió đông bắc mà thuyền đi cũng bị mắc tại đây, đều bị chết đói, của cải phải bỏ lại. Mỗi năm đến tháng cuối đông (Chúa Nguyễn) đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc”. Sau những ghi chép của Đỗ Bá là các ghi chép liên quan đến Hoàng Sa và đội Hoàng Sa của chúa Nguyễn của Thích Đại Sán trong Hải ngoại kỷ sự (1697), của Pière Poivre, của Bá tước D’Estaing (tài liệu chữ Pháp – 1701)[1].

Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn (lúc làm Hiệp trấn Thuận Hóa, 1776) đã ghi về đội Hoàng Sa như sau: “Trước Họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu tư mà ra biển, ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy.

Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm rồi lĩnh bằng trở về”[2].

Sách Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú, phần về phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) cũng ghi: “Quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi, các vua đời trước đặt ra quân giữ Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xã An Vĩnh. Hằng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang lương thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ vừa đánh cá mà ăn.

Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ vừa khai thác vật báu. Đến tháng 8 thì về cửa Eo (Thuận An) lên tâu nộp ở thành Phú Xuân”[3]. Sách Đại Nam thực lục (tiền biên), quyển 10, cũng có ghi về đội Hoàng Sa có nội dung tương tự. Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển II, phần về tỉnh Quảng Ngãi, ngoài phần ghi chép như các sách trước còn ghi thêm rằng: ” …lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật ở các đảo”.

Trong sách này (dịch và in năm 1970) còn có phần Phụ lục riêng về Quần đảo Hoàng Sa do học giả Đào Duy Anh (người hiệu đính) trích từ các sách đã in trước đó như Việt sử cương giám khảo lược, Hải quốc kiến văn lục, Phủ biên tạp lục. Có lẽ cũng dựa vào các sách trên, các tác giả sách Quảng Ngãi tỉnh chí, Quảng Ngãi nhất thống chí cũng có đề cập đến đội Hoàng Sa với nội dung tương tự.

Qua các tư liệu đã dẫn trên kia, có thể thấy, với ý thức về chủ quyền lãnh thổ và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá ở Biển Đông, nên ngay từ khi vào trấn nhậm phương Nam Chúa Nguyễn đã cho lập đội Hoàng Sa.

Đội Hoàng Sa được thành lập chính xác vào năm nào chưa rõ, chỉ biết vào “hồi đầu bản triều”, “hồi đầu dựng nước”, tức sớm nhất cũng phải vào cuối thế kỷ XVI hoặc đầu thế kỷ XVII, và bị “triệt bãi” có lẽ là vào những năm thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.

Các nguồn tư liệu trên cũng cho thấy, 70 suất đinh phiên chế hàng năm cho đội Hoàng Sa trước hết là của làng An Vĩnh, về sau còn có thêm người của làng An Hải.

Về hai làng này, có thể nói thêm như sau: An Vĩnh và An Hải đều nằm theo ven cửa biển Sa Kỳ, trước đây đều thuộc huyện Bình Sơn, đến năm Thành Thái thứ 2 (1890) một phần đất Bình Sơn được tách ra thành châu Sơn Tịnh, và đến năm 1899 mới có tên gọi là huyện Sơn Tịnh như ngày nay.Làng An Vĩnh và An Hải vào thời nhà Nguyễn bao gồm phần đất An Vĩnh, An Hải trong đất liền và An Vĩnh, An Hải ngoài đảo Cù Lao Ré (tức Lý Sơn).

Sở dĩ như vậy là vì, theo các gia phả của các dòng họ và văn tế ở đình làng Lý Hải còn lưu lại cũng như những ghi chép trong sách Non nước xứ Quảng của Phạm Trung Việt thì vào đầu thế kỷ XVI có 7 ngư dân ở làng An Vĩnh trong đất liền dùng thuyền ra đảo sinh cơ lập nghiệp gọi là thất tộc (Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Trần), lập nên phường An Vĩnh; 8 ngư dân từ làng An Hải cũng trong cửa biển Sa Kỳ ra chiếm phần đất phía đông của đảo lập nên phường An Hải, gọi là bát tộc (Nguyễn, Trương, Dương, Nguyễn, Nguyễn, Trần, Lê, Võ).

Vì thế trong buổi đầu khai phá, An Vĩnh phường và An Hải phường ở Cù lao Ré trực thuộc An Vĩnh xã và An Hải xã trong vùng cửa biển Sa Kỳ, thuộc huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa. Đến ngày 11 – 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) mới được tách ra thành 2 xã độc lập (theo đơn phường An Vĩnh xin tách ra khỏi xã An Vĩnh còn lưu tại nhà thờ họ Phạm Quang, Lý Vĩnh), và ngày 1-1-1993 hai xã này được tách riêng ra khỏi huyện Bình Sơn để thành huyện Lý Sơn.

Căn cứ trên các tư liệu đã nói, đội Hoàng Sa được thiết lập dưới thời chúa Nguyễn và sau này là triều Nguyễn, là người của làng An Vĩnh, An Hải trong đất liền, cả người làng An Vĩnh và An Hải ngoài Lý Sơn, nhưng chủ yếu là người của hai làng An Vĩnh (Một số tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng 70 phiên chế hàng năm trong đội Hoàng Sa chỉ là người trên đảo Lý Sơn)[4].Và đến đầu thế kỷ XIX trở về sau, đội Hoàng Sa chủ yếu là người An Vĩnh (nay là Lý Vĩnh) trên đảo Lý Sơn.

Xác định được điều đó là nhờ một phần căn cứ vào việc vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh, thuộc họ dòng Phạm tại An Vĩnh – Lý Sơn, làm cai đội đội Hoàng Sa vào năm 1815 (sau đó là Phạm Hữu Nhật, Võ Văn Khiết, Nguyễn Quang Tám…), và trên các tư liệu điền dã thu thập từ những nhà thờ thuộc các tộc họ: Pham Văn, Phạm Quang, Võ Văn, Mai (còn gọi là Ma), Nguyễn…, cũng như sự xác lập nguồn thông tin trên của nhân dân trên đảo Lý Sơn lẫn nhân dân ở vùng cửa biển Sa Kỳ.

Theo nhân dân Lý Sơn, 70 định suất đi Hoàng Sa (và sau này cả Trường Sa) được chia đều cho các tộc họ, không phân biệt tiền hiền hay hậu hiền, và được theo nguyên tắc luân phiên nhau, người con trưởng phải ở nhà lo việc tế tư, người con thứ phải đăng lính. Vì thế hầu như toàn bộ các tộc họ thuộc làng An Vĩnh trên đảo Lý Sơn đều có người đi lính Hoàng Sa.

2. Các di tích gắn với đội Hoàng Sa:

Hiện nay tại làng An Vĩnh vùng cửa biển Sa Kỳ và trên đảo Lý Sơn còn nhiều di tích (chính) gắn với đội Hoàng Sa năm xưa:

– Trong đất liền: chủ yếu tại làng An Vĩnh (nay thuộc Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh):

1/ Vườn Đồn – nơi lính Hoàng Sa đóng doanh trại.

2/ Dấu tích Miếu Hoàng Sa – nơi đội Hoàng Sa tế thần trước khi lên thuyền một đi không trở lại. Trước đây trong miếu có thờ cốt ông Hoàng Sa (xương cá voi), gọi là thần Hoàng Sa, mà những người lính Hoàng Sa đưa về từ quần đảo này, cách đây chừng 300 năm.

3/ Đình làng An Vĩnh, nơi những binh phu Hoàng Sa trong đất liền lẫn Cù lao Ré tế tự trước khi xuất hành, lẫn khi trở về (căn cứ trên những tài liệu hiện còn có thể xác định được đội Hoàng Sa xuất hành tại cửa biển Sa Kỳ, chứ không phải tại Lý Sơn)[5].

-Trên đảo Lý Sơn:

1/ Âm linh tự (Lý Vĩnh), nơi còn đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong, hàng năm đều có tế tự lính Hoàng Sa và những người bỏ mình trên biển.

2/ Miếu thờ và mộ cai đội Phạm Quang Ảnh (tương truyền được phong Thượng đẳng thần). 3/Nhà thờø tộc họ Phạm có nhiều người đi lính Hoàng Sa (trong nhà thờ còn câu đối thể hiện chí khí và lòng trung thành của dòng họ vì đất nước: Trung can huyền nhật nguyệt / Nghĩa khí quán càn khôn).

3/ Dinh Ông Thắm, thờ cai đội Võ Văn Khiết (dân trong thôn xem ông như Thành Hoàng, cũng tương truyền được phong thượng đẳng thần).

4/ Khu mộ gió, là một khu nghĩa địa giành cho lính Hoàng Sa, nhưng bên dưới không có xác người (vì chết mất xác), nhưng trên mỗi ngôi mộ đều có tên tuổi những người lính Hoàng Sa.

3. Nghi lễ – phong tục:

3.1. Nguồn gốc nghi lễ:

Cho đến nay, người dân vùng biển Quảng Ngãi vẫn còn lưu truyền câu ca:

Hoàng Sa trời nước mênh mông

Người đi thì có mà không thấy về

Hoàng Sa mây nước bốn bề Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa.

Lời ca buồn bã, não ruột trên đây là lời tóm tắt số phận của người đi lính thú Hoàng Sa thuở xa xưa ấy. Không mấy ai còn được trở về. Họ đã như Kinh Kha một đi không trở lại. Biết số phận mỏng manh giữa trời mây non nước, trước khi ra đi, mỗi người phải chuẩn bị cho riêng mình: một đôi chiếu, sẽ là vật dùng để quấn xác nếu không may gục ngã; 7 đòn tre, sẽ là vật nẹp quanh thân; 7 sợi dây mây, sẽ được dùng để bó xác người.

Thi thể người lính nếu không may xấu số ấy sẽ được đồng đội thả xuống biển cả mênh mông. Chiếc thẻ bài bằng tre có ghi tên tuổi, làng quê, phiên hiệu được cài trong bó xác sẽ là thông điệp gửi lại cho gia đình và bản quán nếu thi thể chưa kịp làm mồi cho cá dữ, khi sóng cả chưa làm tan tành những nẹp tre cùng mấy sợi dây mây.

Mà hình như, qua hình ảnh nghĩa địa gió không xác người ở làng An Vĩnh còn lại đến bây giờ, người đời sau đã kịp nhận ra: không mấy chiếc thẻ tre quay về làng cũ, dù chỉ cần không còn nguyên vẹn. Một đoạn bài văn tế lính Hoàng Sa não ruột sau đây, đã là lời minh chứng cho một nguồn gốc một tục thờ cúng không nơi nào có:

“Cúi nghĩ: Cõi u minh khó lòng tưởng tượng, chất trong chất đục phong hóa từ đầu. Ngoảnh sang Đông, ngóng về Tây, hướng đi mơ màng dễ dàng lạc bến. Ôi sắc nước hương trời xa đôi nẻo, lòng dễ mến yêu: Thủy phủ khiến sức nước ngưng, buổi sáng trong veo như trang điểm, cho hồn các vị tựa hàng tiên. Tiếng sóng động đông dài, tưởng niệm dấu thần phương nao mờ mịt, ngóng hồn thiêng xa vời vợi mong được hàm ơn…”[6].

3.2. Nghi thức tế tự:

Để có chút niềm hy vọng người ra đi còn may mắn trở về, người dân làng An Vĩnh làm lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, nếu là cho người sắp bước xuống thuyền để lênh đênh cùng trời mây và bọt biển, còn nếu là để tưởng nhớ đến người lính Hoàng Sa không may xấu số thì cũng làm lễ khao lề nhưng để tế lính Hoàng Sa. Và thường là cho cả hai, thế người còn sống và tế người đã chết.

Hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tức trước ngày những người lính Hoàng Sa chuẩn bị xuống thuyền, các tộc họ trên đảo thực hành lễ khao lề thế lính, với ý nghĩa cầu mong cho người ra đi được bình trên dặm dài sóng nước.

Lễ khao lề tế lính Hoàng Sa (= khao tế), hay khao lề thế lính Hoàng Sa(= khao quân) là việc của gia đình và tộc họ, cũng có khi là việc của làng (nhưng hiếm khi làng tổ chức, bởi làng cũng tế ở đình làng vào thời gian này, và trong tế đình có khấn mời đầy đủ các tên tuổi những người lính Hoàng Sa đã bỏ mạng trên biển).

Tộc trưởng (hay chủ nhà) sẽ là người chủ bái trong khi hành lễ. Trưởng các chi phái sẽ là bồi tế. Ngày xưa, theo trí nhớ của những người cao tuổi, người đi lính Hoàng Sa sẽ đứng hầu thần suốt thời gian tế lễ. Ngoài các thành viên trong tộc họ, các gia đình, con cái, cháu chắt, những người đầu quân, trong lễ tế này phải có thầy phù thủy (thầy pháp). Thầy phù thủy với mũ tam sơn, khăn ấn, áo dài là người điều hành lễ tế .

Ngày 20 là ngày tế chính, nhưng cả tộc họ phải chuẩn bị mọi thứ lễ vật, phân công công việc cho các thành viên trong từng chi phái, từng gia đình trước đó nhiều ngày. Kinh phí thực hiện lễ từ nguồn đất hương hỏa, hoặc ghe thuyền (ghe bầu, ghe buồm) của Ông Bà để lại mà con cháu canh tác hoặc sử dụng.

Ngày nay, đất hương hỏa lẫn ghe thuyền Ông Bà để lại cũng đã từ lâu không còn, nên các tộc họ phải quyên góp trên cơ sở sự tự nguyện. Từ ngày 17 lễ cúng tế đã được bắt đầu và dềnh dàng suốt cả 3 ngày, nhưng lễ vật chỉ có trầu rượu, hoa quả. Trong 3 ngày này mọi thứ lễ vật được tiếp tục chuẩn bị, như làm thuyền lễ và bài vị. Đến 3 ,4 giờ chiều 19 chiêng trống gióng lên báo hiệu cho bà con tộc họ đến để làm lễ yết.

Trong lễ yết thầy pháp bắt đầu điều hành việc cúng tế ngoài sân. Đó là lúc thầy pháp nặn những hình nhân bằng bột gạo, hoặc bằng rơm rạ. 9 giờ tối người ta mổ heo gà. Đến nửa đêm, vào giờ chuyển ngày, lễ tế chính sẽ được kéo dài hàng vài tiếng đồng hồ sau đó.

Lễ vật hiến tế trong nhà cho ông bà, tổ tiên, và các thần linh độ mạng (nhà thờ họ) có heo, gà và những thứ sanh tươi khác, tùy điều kiện, và theo các bước từ sơ hiến, á hiến, chung hiến. Thầy pháp không tham dự lễ cúng này.

Lễ hiến tế ngoài sân cho những linh hồn đã chu du chín suối vì/phải đi lính Hoàng Sa, Trường Sa theo lệnh vua, như câu ca Hoàng Sa đi có về không / Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi, cho Thủy thần, các âm hồn, cho cả những người chết sông, chết biển khác, ngoài những thứ như trầu, rượu, vàng mã, thịt heo, xôi chè bắt buộc phải có : 1 con gà, 1 con cá nướng, 1 con cua, 1 món gỏi cá nhám.

Đó là lệ bắt buộc, là thứ “xưa bày nay làm”, không ai giải thích được vì sao phải cúng các phẩm vật như vậy. Bên cạnh các thứ phẩm vật đã nêu, trên đàn lễ còn có: muối, gạo, củi, mắm, nồi niêu…, là những thứ mà lính Hoàng Sa phải mang theo trên thuyền (và cũng là những thứ mà người đi làm biển phải mang theo).

Đặc biệt trong lễ tục này còn có: các linh vị, thuyền lễ và các hình nộm. Các linh vị được làm bằng giấy màu đỏ. Mỗi linh vị cao chừng 20cm, rộng 7cm, ở trên có danh tánh người lính Hoàng Sa trong tộc họ đã bị tử nạn. Trong tộc họ có bao nhiêu người tử nạn vì đi lính Hoàng Sa là có bấy nhiêu linh vị.

Linh vị được dán trên bìa cứng, có nẹp gỗ, hoặc tre phía sau, và được cắm trên đài chuối cây (cắt theo chiều ngang thân chuối). Người ta đặt các linh vị này trên đàn cúng. Phía trước mỗi linh vị có 1 cây nến thắp sáng. Khi thầy pháp khấn cầu Bà Thủy Long cùng các thủy thần trả linh hồn người chết về cho tổ tiên, các linh vị sẽ được đốt ngay sau đó.

Thuyền lễ cũng có đế bằng chuối cây, là 3 cây chuối dài khoảng 1,5m – 2m, được xâu lại với nhau bằng các thanh tre (đóng bè). Trên đế bè người ta gắn con thuyền làm bằng tre và giấy ngũ sắc, có buồm, cờ, phướn, như thuyền buồm dùng để đi Hoàng Sa, Trường Sa.

Chuẩn bị hiến lễ người ta đặt vào trong thuyền các đồ lễ: vàng mã, muối, gạo, nếp nổ, chè xôi, gỏi cá nhám, cua, cá nướng, đầu, chân, tiết, lòng gà, là những thứ được chia ra trên đàn cúng, và nhang đèn (ngày nay có người còn bỏ vào thuyền một ít đồng tiền lẻ vốn đang được sử dụng). Trong lễ tế khao lề thế lính người ta chỉ làm 3 hoặc 4 hình nộm bằng bột gạo (sau này có khi được thay bằng rơm, hoặc bằng giấy).

Các hình nhân không có đầu (?), phía trên đội nón gõ, áo kẹp nẹp. 4 hình nhân đặt ở 4 góc thuyền, với quan niệm làm vững con thuyền. Như nếu chỉ có 3 hình nhân (đặt ở đầu, giữa, cuối mạn thuyền) là theo quan niệm “tam nhân đồng hành”, và cũng theo cách hiểu là tổng lái, tổng mũi, tổng khoang (Dù trong dịp cúng thế mạng này trong họ có đến nhiều hơn, hoặc ít hơn 3 người phải đi lính Hoàng Sa.

Ngày nay không còn người đi lính Hoàng Sa như thời trước, vì thế lễ tục này không mang ý nghĩa thế mạng nữa, chỉ còn là lễ tế lính Hoàng Sa. Nhưng người địa phương vẫn gọi theo tên gọi cũ: là khao lề thế lính, chứ ít khi gọi là khao lề tế lính). Sau khi thầy pháp cúng tế và làm các nghi thức bùa phép trước đàn thờ, “gửi tên tuổi và linh hồn (người sống)” vào hình nhân (theo lễ thức trước đây), thầy pháp đặt các hình nhân vào thuyền.

Sau khi đặt vào thuyền các hình nhân, lễ tiễn đưa bắt đầu. Đi đầu là những thanh niên mang cờ, phướn, tiếp theo là 4 thanh niên khiêng thuyền lễ, theo sau là thầy pháp, tộc trưởng, các chi phái trưởng, và đoàn người gồm bà con trong tộc họ, có cả những người trong làng, cùng đội chiêng trống. Ra đến bến thuyền, sau khi thầy pháp khấn vái thần linh bốn phương, thuyền lễ sẽ được thắp đèn rồi được thả xuống nước.

Nếu nước cạn thì người ta sẽ dùng thuyền đưa thuyền lễ ra xa, rồi mới thả xuống biển. Kết thúc lễ tế (khoảng 3 giờ sáng ngày 20), thầy pháp và những người lớn tuổi sẽ về lại nhà thờ họ bắt đầu cuộc giao đãi. Lễ lộc cho thầy pháp sẽ thực hiện sau cuộc giao đãi này. Thanh niên trai tráng, phụ nữ phải đến 6 -7 giờ sáng mới được ngồi vào mâm. Vào buổi trưa sẽ có lễ tạ trong nhà lẫn ngoài sân, do tộc trưởng và các chi phái thực hiện.

4. Một vài nhận xét:

Lễ thức trên đây xem ra có phần hơi ma mị, nhưng là lễ thức mang tính nhân văn sâu sắc, là sự cầu mong cho người lính Hoàng Sa được bình yên trong suốt 6 tháng trời lênh đênh trên biển với bao hiểm nguy chờ đón (nếu với ý nghĩa lễ khao lề thế lính), bởi họ tin tưởng rằng những hình nộm kia đã gánh chịu cho người lính những rủi ro bất trắc, và thần linh cũng đã chứng kiến lòng thành; là sự tưởng nhớ và biết ơn đến những người thân trong gia đình dòng họ đã phải vì đất nước, vì lệnh vua, mà hy sinh thân xác (nếu với ý nghĩa khao lề tế lính); là sự tưởng nhớ và biết ơn đến các bậc sanh thành, những người có công khai khẩn đất đai, tạo lập nên làng mạc, và những người vì nhiều lẽ phải rời xa trần thế (nếu là chung cho cả hai).

Nhưng nếu chỉ nhìn như vậy thì không còn gì phải nói thêm. Qua khảo sát, chúng tôi lại thấy: Hình như có một điều gì đó phía sau lễ thức này, có lẽ có một vài lớp “áo văn hóa” phủ bên ngoài làm cho lễ thức chuyển sang một nét nghĩa mới: cầu an cho người đi lính Hoàng Sa, tưởng nhớ các bậc anh linh đã bỏ mình vì Tổ quốc.

Hãy thử so sánh lễ khao lề thế lính Hoàng Sa với lễ tục hình nhân thế mạng còn diễn ra trong lễ hội Rija Nưgar – lễ hội truyền thống đầu năm, là tết năm mới của người Chăm vùng Bình Thuận – Ninh Thuận, mà chúng tôi tách ra từ tư liệu của nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh [7].

a/ Về thời gian diễn ra nghi lễ: Cả hai lễ thức này đều diễn ra vào mùa xuân. Tục hình nhân thế mạng (palaw salih) là một trong lễ thức của lễ hội Rija Nưgar – lễ hội đầu năm, lễ mừng năm mới – với ý nghĩa tống ôn, tống năm cũ, rước năm mới, diễn ra vào cuối tháng tư, đầu tháng năm dương lịch, tức tương đương với cuối tháng 2 theo lịch Chăm, khi “sao Rua nở”.

Lễ thế lính Hoàng Sa cũng diễn ra vào mùa xuân (mà ở trên miêu tả là vào ngày 20 tháng 2 âm lịch). Nhưng theo nhiều người trên đảo Lý Sơn, trước đây lễ tục này tùy theo năm, tùy theo tộc họ mà tế, nhưng cũng phải vào cuối tháng 2 âm lịch.

Mặt khác ở đây cũng còn thấy rằng, mặc dầu là cuộc tế lễ của người dân Lý Sơn dềnh dàng trong 3 ngày đầu, nhưng đó cũng chỉ là những ngày bước vào lễ. Lễ khao lề thực sự bắt đầu vào lúc chiêng trống nổi lên báo hiệu lễ yết vào buổi chiều ngày 19 (nếu là tế chính ngày 20), là lúc ông thày pháp bắt đầu vào cuộc, và những hình nhân lần lượt ra đời.

Ngày hôm sau, là lễ tế chính với các nghi thức không mấy khác biệt với lễ thức hình nhân thế mạng với ý nghĩa tống ôn của người Chăm. Với người Chăm lễ tế ngày hôm sau gọi là “hôm ra”. Vì thế có thể xem: hai lễ tục này diễn ra có sự tương đồng về thời gian, và diễn trình các lễ thức của hai nơi dường như có vẻ tương tự như nhau.

b/ Về lễ vật, phẩm vật: Người Chăm tế thần trong nghi lễ làm hình nhân thế mạng (ngày trước) gồm: xôi, bánh đúc, xôi, trứng và hoa quả. Trong lễ chính thì phải có đủ số lượng: 9 đĩa xôi, 9 đĩa bánh đúc, 9 đĩa gạo nổ và các loại chuối, mía, trầu cau, dừa. Trong lễ thế lính Hoàng Sa thì phải có: 1 con gà, 1 con cá nướng, 1 con cua, 1 món gỏi cá nhám, xôi, nếp nổ, vàng mã, trầu rượu…

Như vậy lễ vật không giống nhau nhiều, nhất là các lễ vật phải có. Nhưng ở đây là các “con số biết nói”, một bên là 9 (loại), một bên là 1 (loại). Hình như có một sự biểu đạt nào đó bằng con số mà chúng tôi chưa biết giải mã thế nào cho đúng. Và cũng vì chưa hiểu biết cặn kẽ nên tạm thời xin được hiểu: ở vùng nào, có thứ gì cúng thứ ấy; còn con số 9 và số 1 đều là những số ước lệ, và là số dương, số sinh sôi nảy nở.

Cũng theo tư liệu của nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh, người dân ở đảo Bali (Inđônêxia) cũng có một lệ đại tống ôn cho cả đảo vào dịp lễ hội Nyepi (năm mới). Muốn nhử hồn ma bóng quỷ tập trung đông đảo, để rồi xua đuổi chúng đi, họ phải bày soạn tất cả các đồ lễ để làm sao thu hút được sự chú ý đặc biệt của chúng.

Mà để làm được như vậy, họ phải có những lễ vật gồm: các loại hạt giống (bỏ trong những hộp bằng lá chuối), và các mẩu thịt sống của tất cả các loại gia súc, động vật có trên đảo. Cứ theo tư liệu này, chúng tôi ngờ ngợ rằng, hình như các loại phẩm vật hiến tế của dân Bali có điều gì đó gần gũi với các phẩm vật hiến tế của người đất đảo Lý Sơn.

Và phải chăng giả thiết trên của chúng tôi về “vùng nào, thức ấy” trong trường hợp này là có phần đúng, vàø phải chăng đó là những thứ vốn có của cư dân ốc đảo ? (Còn với người Chăm, giờ đây họ không còn sống ở ven sông, ven biển, cũng không ở ốc đảo nữa, mà đã canh tác trên những rẻo đất khô hạn ở cực nam vùng Nam Trung bộ, nên phải chăng những thứ hiến tế trên kia lại là yếu tố muộn trong lễ nghi của cư dân vốn giờ đây chỉ chuyên làm nông nghiệp ?)

Cũng trên giả thiết “vùng nào thức ấy” mà có thể nói thêm rằng, mội trường biển đã tác động đến các hình thức văn hóa tín ngưỡng, dù là chỉ biểu hiện trên các phẩm vật cúng tế (cá, gỏi cá, cua, những đồ dùng trong sinh hoạt của người đi biển), đó là chưa kể đến bình diện lớn hơn, chỉ có vùng biển Quảng Ngãi và riêng hơn vùng biển đảo Lý Sơn, mới có lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

c/ Về các thành phần tham gia tế tự: Ngoài những người trong tộc họ tham gia tế tự như để chứng kiến lòng thành của họ đối với những người quá cố, trang trải được nỗi niềm âu lo về số phận của những người sắp phải một mất một còn, còn có một ông thầy pháp (thầy phù thủy), là người giao tiếp với thần linh, người truyền đạt tấm lòng thành của những thành viên trong tộc họ.

Ông thầy pháp trong lễ tế lính Hoàng Sa cũng không khác mấy với ông bóng trong lễ hình nhân thế mạng của người Chăm. Những lời phù chú của ông thầy pháp xa lạ với tiếng Việt, tựa như lời phù chú của ông bóng xa lạ với tiếng Chăm (Bởi ông khấn tế bằng tiếng Java. Cách khấn tế ấy thêm phần linh thiêng.

Càng khó hiểu càng thiêng, là một định đề của văn hóa tín ngưỡng. Đó chính là phương cách mà nhiều thầy cúng thường làm. Cũng tựa như kiểu ông tư văn phải xướng văn tế bằng tiếng Hán). Thầy phù thủy trong lễ tế Hoàng Sa đã “thổi linh hồn” vào hình nhân, tống tiễn hình nhân ra khơi xa để hình nhân gánh chịu mọi nỗi đau đớn cho người đang sống. Thầy bóng trong lễ cúng thế mạng của người Chăm làm cách ấy.

d/ Về những hình nhân thế mạng: Những hình nhân trong lễ thế lẫn tế lính Hoàng Sa là tượng trưng cho lính Hoàng Sa. Sự xúi quẩy mà những người lính sẽ gặp trong bốn bề sóng nước thì các hình nhân này sẽ gánh chịu thay. Những xúi quẩy của cả cộng đồng làng Chăm trong tục palaw salih thì các salih sẽ gánh chịu thay cho họ. Có lẽ đây chỉ là một sự mở rộng hơn về đối tượng.

Các hình nhân thế mạng của cả 2 nơi đều được làm bằng bột gạo. Đó là sự gặp nhau kỳ diệu trong lễ thức giữa 2 nơi. Lễ của người Chăm có 4 hình nhân là hình hai nam, hai nữ, nếu là 3 thì một đàn ông, một đàn bà và một cô con gái.

Lễ của người Việt ở Lý Sơn và vùng ven biển Quảng Ngãi cũng có lúc 4 hình nhân (như 4 hình nhân của người Chăm), nhưng cũng có lúc 3 hình nhân (nếu là 3 thì đó là từ quan niệm “tam nhân đồng hành” như đã nói).

Nhưng dầu có là 3, hay 4 với những biểu tượng là chồng, là vợ, là con, là nam, là nữ, là đực là cái…(của người Chăm) cũng chỉ là phiến đoạn của một lễ tục, bởi có âm có dương thì cũng là để giao hòa mà “đồng hành”.

e/ Mấy lời diễn giải cuối cùng: Hiện nay trên đảo Lý Sơn còn diễn ra một tục lệ đặc biệt, đó là tục cúng việc lề vào tháng 2 âm lịch. Cúng việc lề là công việc của dòng họ, của cả làng.

Không dòng họ nào, gia đình nào bỏ qua lễ thức này vào mùa xuân. Đó là tục lệ mà theo cư dân ở đây: là “khao lệ cầu an” (một cách gọi hết sức ước lệ) và là tống ôn, là cúng đất, là ngày lễ riêng của cư dân hải đảo, được tổ chức như cái tết thứ 2 sau lễ tết Nguyên đán. Tất cả mọi lễ thức diễn ra tương tự như lễ tế lính Hoàng Sa, từ lễ vật, phẩm vật, thuyền tế, hình nhân, đến ông thầy cúng…

Bởi vậy, khi người ta cúng việc lề thường kèm lễ tế lính Hoàng Sa (chỉ thêm có lời khấn vái lính Hoàng Sa), tức 2 lệ nhập làm một, chứ ít khi tổ chức lễ tế lính Hoàng Sa riêng như hiện nay.

Từ điều này cho phép được nhận định:

+ Lễ tục cúng khao lề thế lính Hoàng Sa là một nét văn hóa mới (xuất hiện khi đã có đội Hoàng Sa) của một lễ tục cúng tống ôn đầu năm (Cũng tương tự như lệ cúng thanh minh của làng An Vĩnh tại Âm linh tự.

Ngày nay Âm linh tự còn phối tế lính Hoàng Sa, và những chiến sĩ trận vong (khác) vào ngày 15 tháng 3 âm lịch. Tại Âm linh tự còn có đài chiến sĩ trận vong ở mặt tiền di tích). Mà lễ tục tống ôn cũng chỉ là lễ tục cổ nhằm cầu an, cầu mùa, cầu nước (qua con thuyền thả trôi trên biển).

+ Một lần nữa, từ những nhận xét trên, chúng tôi nghĩ rằng: Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là lễ tục vốn từ lễ tục hình nhân thế mạng của người Chăm, và lễ tục cúng việc lề là lễ tục bắt nguồn từ lễ mừng năm mới Rija Nưgar, mà người Việt tiếp nhận từ việc sống cộng cư với người Chăm, hoặc cũng có thể vốn là của người Chăm đã được Việt hóa.

(Khi đã Việt hóa thì tên gọi bằng tiếng Chăm: Rija Nưgar, hoặc Palaw Salih đã không còn, mà thay vào đó là tên gọi tiếng Việt: Cúng việc lề/ khao lệ cầu an và lễ khao lề thế lính). Và nếu như lễ tục hình nhân thế mạng của người Chăm là một bộ phận của lễ hội mừng năm mới Rija Nưgar, thì lễ khao lề thế lính cũng vốn là một bộ phận của lễ tục cúng việc lề.

Như vậy, cái cốt lõi của 2 lễ thức Chăm – Việt này là một, cùng một tiếng nói, nhưng chỉ khác nhau trong từng chi tiết. Ngoài nét nghĩa cúng thế / tế lính Hoàng Sa được “chồng xếp” lên ý nghĩa tống ôn, sự khác biệt ở đây còn thể hiện ở các chi tiết:

1/Trong lễ vật hiến tế, vì là để tế cho những người lính đi biển, nên lễ vật hiến tế trong lễ khao lề tế lính còn có những đồ dùng cho sinh họat của những người đi biển (là điểm khác so với tục hình nhân thế mạng của người Chăm, nhưng cũng không khác nhau là mấy nếu so với tục chia của của nhiều đồng bào dân tộc. Người còn ở cõi dương vốn dùng gì thì sang cõi âm cũng dùng những thứ đó).

2/Trong thành phần tham gia lễ tế, sự khác nhau không phải là ở ông thầy bóng – thầy pháp, mà ở đây là ở ông thầy vỗ (trống) và hát. Trong tục của người Chăm, những tiếng trống và giai điệu bài hát của ông thầy vỗ sẽ được truyền đến tai thần linh về sự cầu mong mọi vật sinh sôi nảy nở, mùa màng tươi tốt, nhân dân được yên bình lạc nghiệp, không ốm đau bệnh tật. Nhưng trong lễ tế lính Hoàng Sa, lẫn lễ khao lệ cầu an, không có thầy vỗ vỗ trống và hát, mà chỉ có dàn nhạc ngũ âm và chinh cổ.

3/ Cả hai nơi đều có hình nhân thế mạng, nhưng trong lễ tế lính Hoàng Sa còn có thêm những linh vị (đó là yếu tố có lẽ được du nhập muộn, khi cộng đồng cư dân Việt đã biết tự “thiết kế” thêm – các linh vị- cho phù hợp với thể thức mới – thể thức mà các vua chúa nhà Nguyễn ứng dụng cách thờ người chết của người Tàu), v.v…

Cũng cần nói thêm rằng, tục hình nhân thế mạng còn được thực hiện khi trong tộc họ có người đi lính Hoàng Sa bị chết mất xác. Lúc này người ta cũng mời thầy pháp đến nhà làm hình nộm, xong làm nghi thức “gọi linh hồn người chết” về nhập vào hình nộm, rồi đem chôn ở nghĩa địa (như có thể thấy ở nghĩa địa lính Hoàng Sa, Trường Sa trên đảo Lý Sơn).

Tục này xuất phát từ quan niệm “sống có nhà, già có mồ”. Người chết có mồ yên mả đẹp bao giờ cũng làm an ủi người đang sống.

Nói chung, dù tín ngưỡng khao lề thế lính Hoàng Sa, hay cúng việc lề (mà trong đó lễ khao lề thế lính là một bộ phận của nghi thức), có thể được phát triển trên cơ tầng của một lễ hội mừng năm người Chăm, thì cái chính của tục lệ này vẫn là sự thể hiện đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của người Việt, rất nhân văn, cao cả.

Tuy nhiên ở đây cũng thấy rằng, nhờ môi trường biển, môi trường dễ dàng tiếp xúc với văn hóa Chăm (như có nhà nghiên cứu đã nói: người Việt đi dọc biển mới gặp gỡ văn hóa Chăm), mà đã sinh thành nên một lễ tục độc đáo mà không nơi có: khao lề thế lính (Hoàng Sa).

Và những gì thuộc về công trạng của đội Hoàng Sa năm xưa đã được ghi trên câu đối lưu truyền tại đình làng Lý Vĩnh, dù đình Lý Vĩnh nay không còn:

Ân đức dựng xây miền đảo Lý

Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa.

(Nguyễn Ðăng Vũ)

—————————————

[1].Theo Nguyễn Quang Ngọc, Về quê hương và họat động của đội Hoàng Sa, báo cáo khoa học tại Hội nghị tôn tạo di tích Hoàng Sa- Trường Sa do Ban biên giới Chính phủ và UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức, 10/2001

[2] Lê Quý Đôn, Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, Nxb Sử học, HàNội, 1977, tr 119-120.

[3] Phan Huy Chú, Hoàng Việt địa dư chí, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr.16.

[4] Xem bài Từ việc xác lập nguồn gốc đội Hoàng Sa nghĩ về việc tôn tạo các di tích liên quan trên đất Quảng Ngãi của tác giả, tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 11-2001, tr.31-33].

[5][6]. Xem Nguyễn Quang Ngọc-Vũ Văn Quân, Tư liệu về nguồn gốc và chức năng của đội Hoàng Sa, tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 4-1998, phần phụ lục, và tr.19.

[7]. Ngô Văn Doanh, Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm, Nxb Văn hóa dân tộc, H. 1998].

Bờ xe nước sông Trà

Ngày nay những xe nước nổi tiếng một thời ở tỉnh Quảng Ngãi đã hoàn toàn Xe nước Sông Tràvắng bóng, nhưng trong ký ức của những người đứng tuổi, xe nước vẫn là một hoài niệm đẹp. Xe nước đã đi vào thi ca, nhạc hoạ.

Xe nước càng đẹp khi ta hiểu rằng nó đã gắn với sự sống của người dân Quảng Ngãi hàng trăm năm, thậm chí vài ba trăm năm. Cứ thử hỏi, trong suốt mấy trăm năm đó, không có những xe nước, thì các cánh đồng, làng mạc ở Quảng Ngãi sẽ ra sao ?

Những bờ xe nước đặt trên sông Vệ và sông Trà Khúc không chỉ gắn liền với cuộc sinh tồn của người dân địa phương mà nó còn làm cho những khách phương xa có ấn tượng rất mạnh. Và cũng như người Việt ta, câu hỏi đầu tiên đối với du khách luôn là: Xe nước do người địa phương tự sáng chế hay được du nhập từ đâu tới ?

Đó cũng là câu hỏi của chủ sự hành chính Pháp ở Quảng Ngãi La Borte, và ông đã tìm câu trả lời từ dân gian: Đó là “lão Thêm” đã sáng chế. Lão Thêm ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, với những sáng chế bờ xe nước lão được Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc châu phê vào “chính chấp bằng” năm 1790. Hiển nhiên điều này chưa thật chắc chắn.

Người ta nói nhiều về các bờ xe nước trên sông Trà Khúc là có lí, vì chính ở sông Trà Khúc các bờ xe nước có quy mô rất lớn rất ấn tượng. Nhưng có lẽ cũng không nên quên rằng những bờ xe nước trên sông Vệ, nhất là chuyện về xe nước ở làng Bồ Đề cũng hết sức thú vị.

Từ sách “Đại Nam thực lục “ do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn, ta được biết vào năm 1874, vua Tự Đức đã quyết định cho làng Bồ Đề được vay 500 quan kẽm để dựng đặt xe nước. Có lẽ đó cũng là kết quả của 4 năm trước đó, năm 1870, quan Bố Chánh Quảng Ngãi là Nguyễn Thông từng có sớ tâu xin vua cho Bồ Đề, Năng An và các làng lân cận được miễn thuế “biệt nạp” 80 quan đánh vào bờ xe nước.

Lý lẽ của Nguyễn Thông như sau:

“Lại xét rằng hạt của thần, thuế biệt nạp chỉ có thôn Đông Dương xã Văn Lâm – xã Long Phụng, thôn Phước Lộc – xã Bồ Đề, xã Năng An phải nộp thuế guồng nước đằng viên hơn 80 quan.

Song nghề nông không gì cần bằng nước, việc đắp đập khơi ngòi là làm lợi cho dân, dù cho tiêu tốn công quỹ triều đình cũng không tiếc, huống chi kẻ tiểu nhân tự lo lấy mà lại theo bắt nộp thuế sao ?”. Vua Tự Đức đã cho miễn thuế.

Xe nước làng Bồ Đề đã tồn tại một thời gian dài cùng với hàng trăm bờ xe nước ở Quảng Ngãi.Theo Nguyễn Bá Trác trong “Quảng Ngãi tỉnh chí” thì năm 1933, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 96 xe nước, riêng ở Mộ Đức, các làng Long Phụng, Nghĩa Lập, Bồ Đề có 25 guồng xe trên sông Vệ .

Trong kháng chiến chống Pháp, mặc dù bị giặc Pháp đánh phá, oanh tạc nhưng Bồ Đề và Năng An (xã Đức Nhuận ngày nay) vẫn được dựng 7 guồng xe nước. Từ Bình Sơn, do khó khăn về nước tưới, người dân cũng được cử vào đây để học cách dựng guồng xe nước về dựng trên sông Trà Bồng.